Wednesday, July 4, 2018 - 21:35

   Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh.

     1.Quy định cuả pháp luật

     Điều 121. Bảo lĩnh

1. Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh.

2. Cơ quan, tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người của cơ quan, tổ chức mình. Cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh phải có giấy cam đoan và có xác nhận của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.

Cá nhân là người đủ 18 tuổi trở lên, nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý người được bảo lĩnh thì có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ và trong trường hợp này thì ít nhất phải có 02 người. Cá nhân nhận bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan có xác nhận của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập.

Trong giấy cam đoan, cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh phải cam đoan không để bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ quy định tại khoản 3 Điều này. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh được thông báo về những tình tiết của vụ án liên quan đến việc nhận bảo lĩnh.

3. Bị can, bị cáo được bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ:

a) Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;

b) Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;

c) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm giam.

4. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định bảo lĩnh. Quyết định của những người quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

5. Thời hạn bảo lĩnh không được quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn bảo lĩnh đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.

6. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh để bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị phạt tiền theo quy định của pháp luật.

     2.Phân tích

     Theo quy định vừa nêu, Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Do vậy, chúng ta cần hiểu rằng biện pháp bảo lĩnh được áp dụng khi bị can, bị cáo đang bị tạm giam, nếu có đủ các điều kiện quy định và xét thấy cần thiết thay đổi biện pháp tạm giam thì người có thẩm quyền quyết định áp dụng để thay thế biện pháp tạm giam. Căn cứ vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh. Ở biện pháp này, nhà làm luật đã quy định chặt chẽ, chi tiết hơn nhiều nội dung chưa có trong BLTTHS năm 2003, cụ thể, trong trường hợp bảo lĩnh, nếu người bảo lĩnh là cá nhân thì phải đủ 18 tuổi trở lên; có thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý được người bảo lĩnh; phải là người thân của bị can, bị cáo và trong trường hợp này phải có ít nhất hai người; nội dung cam đoan của bị can, bị cáo trong biện pháp nêu trên cũng được quy định cụ thể, chi tiết. Một nội dung quan trọng đó là quy định bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan thì bị tạm giam. Thời hạn áp dụng các biện pháp nêu trên cũng được quy định đầy đủ hơn, đó là, thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn trên không được quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử. Thời hạn áp dụng đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.
       Mặc dù là một biện pháp thay thế, nhưng biện pháp bảo lĩnh có tính chất ít nghiêm khắc hơn so với tạm giam, nó không làm hạn chế quyền tự do đi lại của bị can, bị cáo, không tách họ ra khỏi cộng đồng.
Qua việc phân tích này, có thể đưa ra một khái niệm về bảo lĩnh như sau: Bảo lĩnh là một trong những biện pháp ngăn chặn trong Luật tố tụng hình sự do cơ quan hoặc người có thẩm quyền ở các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo khi có đủ các căn cứ do pháp luật quy định để thay thế biện pháp tạm giam, nhằm bảo đảm không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử đồng thời bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng.
         Từ khái niệm vừa nêu, có thể chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của biện pháp bảo lĩnh như sau:

  • Một là, bảo lĩnh là một trong những biện pháp ngăn chặn trong Luật TTHS;
  • Hai là, bảo lĩnh là một biện pháp ngăn chặn có tính ít nghiêm khắc hơn;
  • Ba là, bảo lĩnh là một  biện pháp ngăn chặn được áp dụng để thay thế biện pháp tạm giam;
  • Bốn là, đối tượng  được áp dụng biện pháp bảo lĩnh chỉ có thể là bị can, bị cáo;
  • Năm là, để áp dụng biện pháp bảo lĩnh, chủ thể tiến hành tố tụng phải dựa vào các căn cứ và điều kiện nhất định;
  • Sáu là, biện pháp bảo lĩnh phải được tiến hành bởi người có thẩm quyền ở các CQTHTT và theo một trình tự luật định;
  • Bảy là, mục đích của biện pháp bảo lĩnh là nhằm bảo đảm không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử đồng thời bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của các CQTHTT.

     Biện pháp bảo lĩnh thể hiện sự gắn kết chặt chẽ ba chủ thể trong hoạt động tố tụng hình sự: CQTHTT - Bị can, bị cáo - Chủ thể đứng ra nhận bảo lĩnh có nghĩa vụ pháp lý từ khi có quyết định cho bảo lĩnh. Tính ưu việt của biện pháp này là tạo điều kiện cho những người khác trong cộng đồng phát huy trách nhiệm cá nhân tham gia vào quản lý, giáo dục bị can, bị cáo.
Song song đó, cũng cần phân biệt biện pháp bảo lĩnh với một số biện pháp ngăn chặn khác được quy định tại Điều 122, Điều 123 BLTTHS năm 2015, đó là:
     -Cấm đi khỏi nơi cư trú: Nếu như biện pháp bảo lĩnh không hạn chế các quyền công dân thì biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú làm hạn chế quyền tự do đi lại của bị can, bị cáo. Bị can, bị cáo không được tự ý rời khỏi nơi cư trú của mình. Trong thời gian bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú bị can, bị cáo phải chịu sự giám sát, quản lý của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú.
     -Đặt tiền để bảo đảm: Bên cạnh các căn cứ để áp dụng giống biện pháp bảo lĩnh thì biện pháp đặt tiền để bảo đảm, còn quy định CQTHTT có quyền tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền họ đã đặt nếu vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan. Nếu bị can, bị cáo chấp hành đầy đủ nghĩa vụ đã cam đoan thì CQTHTT có nghĩa vụ trả lại cho họ số tiền đã đặt.
Biện pháp bảo lĩnh cho thấy vai trò mềm dẻo, linh hoạt trong việc thu hút sự tham gia của gia đình, cơ quan, tổ chức giám sát và giáo dục, nhằm hướng cho các bị can, bị cáo lầm đường, lỡ bước, có cơ hội được tái hòa nhập xã hội. Biện pháp bảo lĩnh cho thấy ý nghĩa nhân văn sâu sắc của chính sách pháp luật tố tụng hình sự nước ta, thể hiện một tầm nhìn có tâm của nhà làm luật, cũng chính là hành động bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần thúc đẩy công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm ngày một hiệu quả hơn. Hướng tới các quyền tự do, dân chủ của con người là mục tiêu phấn đấu của mọi quốc gia trên thế giới. Nhà nước cho phép CQTHTT sử dụng các biện pháp ngăn chặn cần thiết, phù hợp với mục đích đề ra nhưng vẫn bảo đảm các quyền cơ bản của công dân.

      Căn cứ pháp lý

Bộ luật hình sự năm 2015

ĐỂ BIẾT THÊM THÔNG TIN PHÁP LÝ HOẶC SỬ DỤNG DỊCH VỤ QUÝ KHÁCH VUI LÒNG LIÊN HỆ
CÔNG TY TƯ VẤN VIỆT LUẬT
 
Liên hệ yêu cầu dịch vụ hỗ trợ vui lòng gọi: 0935 886 996 ; Hotline: 0985 989 256 - 0965 999 345
 
Văn phòng Tại Hà Nội:
Địa chỉ: Số 8 ngõ 22 Đỗ Quang (trên đường Trần Duy Hưng),  Cầu Giấy, Hà Nội
Tel: 02436 856 856 -  02437 332 666 - Email: congtyvietluathanoi@gmail.com
Văn phòng Tại TP Hồ Chí Minh:
Địa chỉ: Địa chỉ: Số 491/1 Trường Chinh, Phường 14, Q. Tân Bình, TP.HCM
Tel: 0968 29 33 66
Hãy nhấc máy gọi 1900 6199 để được tư vấn luật hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi với đội ngũ luật sư, chuyên viên tư vấn giỏi, uy tín, và có tính chuyên nghiệp, tính quốc tế cao, có thể  đáp ứng đầy đủ yêu cầu của khách hàng tốt nhất.

Facebook comments