Wednesday, July 4, 2018 - 21:19

Việc xác định căn cứ khởi tố nhằm hạn chế tối đa những khả năng vi phạm các quyền cơ bản của công dân đồng thời xác định thời điểm mà các quan hệ tố tụng được khởi phát là cơ sở cho việc thực hiện các quy định pháp luật tố tụng hình sự khác liên quan đến sự kiện pháp lý phải điều chỉnh.

      1.Quy định của pháp luật

      Điều 143. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự

Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:

1. Tố giác của cá nhân;

2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;

4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;

5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;

6. Người phạm tội tự thú.

     2.Phân  tích và bình luận

    Vụ án hình sự chỉ có thể được khởi tố khi có căn cứ luật định.

Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định căn cứ để khởi tố vụ án hình sự. Để loại trừ những trường hợp oan sai, Điều luật quy định khả năng duy nhất cho phép khởi tố vụ án. Đó là khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm.

Dấu hiệu tội phạm chính là những tài liệu ban đầu về sự kiện phạm tội nói chung, chưa phải tài liệu về người phạm tội cụ thể nào và thực tế cho thấy có những trường hợp lúc đầu mới chỉ biết những thông tin về sự kiện nhưng khi kiểm tra thì sự kiện đó không đủ dấu hiệu tội phạm. Điều luật quy định trên cơ sở đó xác định căn cứ để khởi tố vụ án mà chưa nói đến khởi tố bị can bởi vì những dấu hiệu ban đầu đó chỉ mới cho phép xác định có tội phạm xảy ra còn ai là người có hành vi phạm tội thì cần thiết phải tiến hành những hoạt động tố tụng hình sự khác sau khi khởi tố mới có thể xác định được. Cũng vì thế, luật quy định khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm thì phải khởi tố vụ án hình sự ngay để làm cơ sở cho các hoạt động điều tra, chứ không được đợi đến khi phát hiện ra người phạm tội thì mới quyết định khởi tố. Đồng thời luật cũng chưa cho phép quyết định khởi tố bị can ngay đồng thời với khởi tố vụ án.

 Có dấu hiệu tội phạm chính là căn cứ cần và đủ để khởi tố vụ án hình sự.

Dấu hiệu tội phạm được xác định trên cơ sở những thông tin thu được từ những nguồn nhất định. Điều luật quy định 6 nguồn thông tin cụ thể làm cơ sở xác định có dấu hiệu tội phạm.

Bằng việc khởi tố vụ án hình sự, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ra văn bản xác định có dấu hiệu tội phạm để tiến hành cuộc điều tra theo tố tụng hình sự. Theo quy định hiện hành thì: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm có thể khởi tố vụ án hình sự.

Khi nhận được sự tố giác hay tin báo về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền khởi tố phải kiểm tra nhằm xác định có dấu hiệu tội phạm hay không và có những căn cứ được khởi tố vụ án hình sự hay không, để ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự.

Chỉ sau khi đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì mới được thực hiện các hoạt động tố tụng khác như bắt người, khám xét, trừ một số trường hợp luật định.

Khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền khởi tố phải căn cứ vào một trong những cơ sở được nêu ở Điều 143 của Bộ luật tố tụng hình sự, phân tích, đánh giá để đi đến những kết luận:

+ Có sự việc đã xảy ra hay không, thời gian, địa điểm, diễn biến sự việc…

+ Sự việc có đủ dấu hiệu một tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự hiện hành hay không ?

Xác định dấu hiệu của tội phạm ở giai đoạn này là xác định những dấu hiệu hành vi và sự kiện phạm tội. Luật chưa yêu cầu phải xác định người phạm tội. Để xác định được người phạm tội thường phải trải qua một loạt các hoạt động điều tra mà thông thường được tiến hành sau khi đã khởi tố vụ án hình sự. Để xác định dấu hiệu tội phạm làm căn cứ quyết định khởi tố vụ án hình sự, phải phân tích trong những nguồn tin ban đầu mà luật quy định là cơ sở xác định dấu hiệu tội phạm.

Những cơ sở để từ đó xác định dấu hiệu tội phạm làm căn cứ khởi tố đã được quy định là:

  • Tố giác của cá nhân;
  • Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
  • Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;
  • Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;
  • Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;
  • Người phạm tội tự thú

Cần phân biệt dấu hiệu, cơ sở và căn cứ để khởi tố vụ án. Năm nguồn thông tin nêu trên chỉ mới là những cơ sở ban đầu để cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền nghiên cứu (xác minh, thẩm tra hay bằng các biện pháp tố tụng hình sự khác…) nhằm xác định có đủ hay không căn cứ để khởi tố vụ án hình sự. Điều đó có nghĩa là những nguồn tin đó chưa phải là căn cứ khởi tố mà chúng mới chỉ là nguồn, là cơ sở hàm chứa những thông tin cho phép đi đến kết luận có căn cứ hay không để khởi tố vụ án hình sự.

Nói cách khác có thể có những dấu hiệu nêu tại Điều 143 nhưng vẫn không khởi tố vụ án hình sự khi cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền thấy rằng không có căn cứ để khởi tố. Ngược lại, cơ quan tiến hành tố tụng không thể tìm những căn cứ ở đâu khác ngoài những cơ sở nêu trên để xác định căn cứ khởi tố vụ án hình sự. Những thông tin từ các nguồn không thỏa mãn là một trong năm cơ sở (nguồn) nói trên không thể làm cơ sở xác định căn cứ khởi tố vụ án hình sự.

Từ việc quy định 6 cơ sở để xác định căn cứ khởi tố như trên, cho ta thấy, ngoài những tin báo, tố giác về tội phạm do công dân, cơ quan tổ chức xã hội hay phương tiện thông tin đại chúng cung cấp, hoặc người phạm tội tự thú. Điều luật đã quy định rõ những cơ quan mà thông tin tài liệu của họ thu thập được trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình có giá trị làm cơ sở để xác định căn cứ khởi tố vụ án hình sự. Đó là: Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan. Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của lực lượng Công an nhân dân. Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm.

       Căn cứ pháp lý

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

ĐỂ BIẾT THÊM THÔNG TIN PHÁP LÝ HOẶC SỬ DỤNG DỊCH VỤ QUÝ KHÁCH VUI LÒNG LIÊN HỆ
CÔNG TY TƯ VẤN VIỆT LUẬT
 
Liên hệ yêu cầu dịch vụ hỗ trợ vui lòng gọi: 0935 886 996 ; Hotline: 0985 989 256 - 0965 999 345
 
Văn phòng Tại Hà Nội:
Địa chỉ: Số 8 ngõ 22 Đỗ Quang (trên đường Trần Duy Hưng),  Cầu Giấy, Hà Nội
Tel: 02436 856 856 -  02437 332 666 - Email: congtyvietluathanoi@gmail.com
Văn phòng Tại TP Hồ Chí Minh:
Địa chỉ: Địa chỉ: Số 491/1 Trường Chinh, Phường 14, Q. Tân Bình, TP.HCM
Tel: 0968 29 33 66
Hãy nhấc máy gọi 1900 6199 để được tư vấn luật hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi với đội ngũ luật sư, chuyên viên tư vấn giỏi, uy tín, và có tính chuyên nghiệp, tính quốc tế cao, có thể  đáp ứng đầy đủ yêu cầu của khách hàng tốt nhất.

Facebook comments