Wednesday, July 19, 2017 - 10:25

Hỏi: Xin chào luật sư, ba tháng trước em có được một người bạn giới thiệu đầu tư em đã tin tưởng và chuyển tiền để bạn ấy đầu tư với 3 lần chuyển tổng số tiền là 100.000.000 đồng. Tuy nhiên hôm qua em có liên lạc và hỏi bạn ấy về số tiền đầu tư thì em không liên lạc được với bạn ấy và hỏi một số bạn cùng em gửi tiền đầu tư cho bạn thì biết bạn ấy không hề đầu tư và hiện tại đã bỏ trốn cùng với tiền đầu tư của em và những bạn khác. Luật sư cho em hỏi bây giờ em và những người bạn kia phải làm như thế nào để có thể lấy lại số tiền đã đầu tư. Và bạn đã lừa số tiền của bọn em sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự gì? Em cảm ơn ạ!

Trả lời: 

1. Phân tích

Theo như thông tin bạn đã cung cấp thì bạn của bạn đã có hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng khẳng định đây là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì cần nhiều thông tin hơn từ bạn tuy nhiên chúng tôi cũng có thể phân tích để bạn hiểu rõ hơn như sau:

  • Giống nhau:

 Cả hai tội lừa đảo và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tàu sản đều xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu đối với tài sản;
 Mặt khách quan của cả hai tội đều được thực hiện bằng phương pháp hành động, đều thể hiện ở hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Hai tội này đều dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Cả hai tội đều được coi là hoàn thành từ khi chiếm đoạt được tài sản.

Mặt chủ quan của tội lừa đảo và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đều có hình thức lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội đều thấy trước hành vi lừa đảo hoặc hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là nguy hiểm cho xã hội, hành vi ấy đều gây thiệt hại cho quyền sở hữu của chủ tài sản, tuy nhiên người phạm tội đều mong muốn chiếm đoạt được tài sản của người khác với mục đích vụ lợi.

Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đều là bất kỳ người nào, đủ độ tuổi và đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Trách nhiệm hình sự:  Nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị thấp hơn mức quy định thì đòi hỏi người thực hiện hành vi phải đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc hành vi chiếm đoạt tài sản gây hậu quả nghiêm trọng.

  • Khác nhau:

Thủ đoạn chiếm đoạt tài sản của hai tội này hoàn toàn khác nhau. Người lừa đảo chiếm đoạt tài sản sử dụng thủ đoạn gian dối gây lòng tin đối với chủ tài sản, làm chủ tài sản tin tưởng người phạm tội mà trao tài sản cho họ. Để chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội lừa đảo phải dùng thủ đoạn gian dối trước. Chính thủ đoạn gian dối là nguyên nhân làm người có tài sản tin tưởng mà trao tài sản. Thủ đoạn gian dối là nguyên nhân nhận được tài sản của người khác để chiếm đoạt tài sản ấy. Người lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn khác với người lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mặc dù sự chiếm đoạt tài sản có tính chất gian dối. Người lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bằng cách vay, mượn, thuê, hợp đồng với chủ tài sản để chủ tài sản giao tài sản cho người phạm tội. Họ nhận được tài sản từ chủ tài sản một cách hợp pháp , ngay thẳng. Sau khi nhận được tài sản người phạm tội mới thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản ấy. Sự gian dối chiếm đoạt tài sản sảy ra sau khi nhận được tài sản nên lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là bội tín (phản bội lòng tin ) của chủ tài sản.

2. Căn cứ pháp lý

Điều 174, 175 Bộ luật hình sự 2015

3. Trách nhiệm của chủ thể phạm tội

Theo như phân tích ở trên cùng với những thông tin bạn đã cung cấp thì bạn của bạn( gọi là A) đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản không chỉ của bạn mà của cả những người khác nữa nên dựa theo Điều 174 BLHS 2015 Bạn cần cung cấp thêm chứng cứ và có  nhân chứng để khởi kiện tố cáo hành vi của A .

Bạn có thể làm đơn tố cáo ra cơ quan công an để được giải quyết kèm theo đó là các chứng cứ kèm theo các chứng cứ kèm theo chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp như giấy vay mượn tiền, giấy biên nhận tiền giữa các bên...Bên cạnh đó , bạn có quyền tố cáo để đòi lại số tiền của mình theo Bộ luật tố tụng hình sự quy định về việc tố cáo như sau: " Công dân có quyền tố cáo với cơ quan, cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi íích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức."

Trên đây là tư vẫn của chúng tôi nếu còn thắc mắc bạn có thể liên hệ lại để được hỗ trợ thêm.

ĐỂ BIẾT THÊM THÔNG TIN PHÁP LÝ HOẶC SỬ DỤNG DỊCH VỤ QUÝ KHÁCH VUI LÒNG LIÊN HỆ
CÔNG TY TƯ VẤN VIỆT LUẬT
 
Liên hệ Tư vấn các vấn đề pháp lý vui lòng gọi: 1900 6199
Liên hệ yêu cầu dịch vụ hỗ trợ vui lòng gọi: 0935 886 996 ; Hotline: 0985 989 256 - 0965 999 345
 
Văn phòng Tại Hà Nội:
Địa chỉ: Số 126, Phố Chùa Láng - Đống Đa - Hà Nội
Tel: 02436 856 856 -  02437 332 666 - Email: congtyvietluathanoi@gmail.com
Văn phòng Tại TP Hồ Chí Minh:
Địa chỉ: Số 43/58A Cộng Hòa, Phường 4, Q. Tân Bình, TP.HCM
Tel: 0968 29 33 66
Hãy nhấc máy gọi 1900 6199 để được tư vấn luật hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi với đội ngũ chuyên viên tư vấn giỏi, uy tín, và có tính chuyên nghiệp, tính quốc tế cao, có thể  đáp ứng đầy đủ yêu cầu của khách hàng tốt nhất.