Friday, January 26, 2018 - 11:51

Hỏi: Ngày 2/3/2015 tôi có nhờ N.X.P xin việc cho tôi và anh ta có bảo tôi đưa cho anh ta 70.000.000 đồng để anh ta đảm bảo xin và chạy việc cho tôi trong vòng hai tháng tuy nhiên sau đó từ đó đến nay đã gần hai năm rồi mà anh ta vẫn chưa xin việc cho tôi vì vậy tôi có gọi nhiều lần và giục hỏi và muốn đòi lại tiền nhưng anh ta luôn khất bận cũng không nghe điện thoại. Cho tôi hỏi là bây giờ tôi muốn đòi lại tiền thì có được không? Và nếu muốn đòi lại thì tôi phải làm như thế nào? Lúc giao tiền cho anh ta tôi rất tin tưởng nên không hề có chúng từ giấy tờ hay hợp đồng gì cả, cả giấy giao nhận tiền cũng không có.

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn có nhờ anh A xin việc hộ và đã giao cho anh A số tiền là 70 triệu đồng, nhưng sau khi nhận tiền thì anh P không giúp được mà cũng không trả lại tiền, bạn đã nhiều lần gọi điện nhưng anh P đều lảng tránh và không nghe máy.Với hành vi này của P, tùy thuộc vào các tình tiết trên thực tế mà có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hoặc cũng có thể chỉ là hành vi vi phạm pháp luật dân sự thông thường.

- Trường hợp 1:

Thực tế anh P là người không có khả năng xin được việc nhưng đã có những hành vi, thủ đoạn gian dối để cho bạn lầm tưởng rằng P có khả năng xin được việc để bạn tin tưởng giao tiền cho P thì hành vi này có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009): "Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

- Trường hợp 2:

Trường hợp trước khi nhận tiền, P không có thủ đoạn gian dối mà sau khi nhận tiền của bạn, P không xin được việc rồi mới nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản đó và có hành vi bỏ trốn thì có thể cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự:

"1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

 a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

 b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản".

- Trường hợp 3:

Trường hợp anh P có hành vi nhận 70 triệu đồng để xin việc cho bạn, nhưng gần 2 năm sau mà vẫn không xin được vì nhiều lý do khác nhau mà không có hành vi bỏ trốn và chiếm đoạt 70 triệu đồng nói trên, thì đó chỉ là hành vi vi phạm luật dân sự (vi phạm hợp đồng).

Theo những phân tích ở trên nếu như hành vi của P có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự thì bạn có thể trình báo với cơ quan công an để yêu cầu giải quyết. Trường hợp hành vi này chỉ là vi phạm pháp luật dân sự thì bạn có thể khởi kiện ra tòa án để yêu cầu giải quyết (đòi lại số tiền mình đã đưa cho P). Việc bạn không có giấy tờ văn bản giao nhận tiền thì phải chứng mình được thực tế có việc giao tiền ở đây, ví dụ như chuyển khoản ngân hàng, băng ghi âm, ghi hình, người làm chứng...Tuy nhien do bạn chưa nêu rõ ràng cụ thể các chi tiết liên quan nên chúng tôi không thể tư vấn kỹ hơn cho bạnvề hành vi của P được nên thong tin trên đây chỉ mang tính chất tham khảo trường hợp bạn cần hướng dẫn chi tiết hơn thì có thể liên hệ lại với chúng tôi.

ĐỂ BIẾT THÊM THÔNG TIN PHÁP LÝ HOẶC SỬ DỤNG DỊCH VỤ QUÝ KHÁCH VUI LÒNG LIÊN HỆ
CÔNG TY TƯ VẤN VIỆT LUẬT
 
Liên hệ Tư vấn các vấn đề pháp lý vui lòng gọi: 1900 6199
Liên hệ yêu cầu dịch vụ hỗ trợ vui lòng gọi: 0935 886 996 ; Hotline: 0985 989 256 - 0965 999 345
 
Văn phòng Tại Hà Nội:
Địa chỉ: Số 8 ngõ 22 Đỗ Quang (trên đường Trần Duy Hưng),  Cầu Giấy, Hà Nội
Tel: 02436 856 856 -  02437 332 666 - Email: congtyvietluathanoi@gmail.com
Văn phòng Tại TP Hồ Chí Minh:
Địa chỉ: Địa chỉ: Số 491/1 Trường Chinh, Phường 14, Q. Tân Bình, TP.HCM
Tel: 0968 29 33 66
Hãy nhấc máy gọi 1900 6199 để được tư vấn luật hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi với đội ngũ chuyên viên tư vấn giỏi, uy tín, và có tính chuyên nghiệp, tính quốc tế cao, có thể  đáp ứng đầy đủ yêu cầu của khách hàng tốt nhất.