Sunday, December 13, 2015 - 13:36

     Để tạo điều kiện cho các bên có thể giao kết hợp đồng dân sự mà vẫn bảo đảm được quyền lợi của bên có quyền ngay cả trong trường hợp người có nghĩa vụ không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình. Pháp luật có quy định về việc cho phép người thứ ba đứng ra cam kết thực hiện nghĩa vụ thay cho người thứ ba. Với trường hợp này, hai quan hệ dân sự được hình thành là quan hệ giữa người thứ ba với người có nghĩa vụ và quan hệ giữa người thứ ba và người có quyền trong đó quan hệ giữa người thứ ba và người có nghĩa vụ lập ra nhằm bảo đảm lợi ích cho người có quyền.

 

1. Khái niệm bảo lãnh:  

       Điều 361 BLDS 2005 quy định về khái niệm bảo lãnh như sau: 

"Bảo lãnh là việc người thứ ba (say đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình."

    Với vai trò là một hình thức bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, bảo lãnh đảm bảo quyền lợi cho người có quyền và đảm bảo nghĩa vụ được thực hiện. Việc bảo lãnh phải được lập thành văn bản có thể được lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính nhằm tạo tính pháp lý cao hơn, tăng sự đảm bảo cho hợp đồng chính. Trong một số trường hợp do pháp luật quy định, văn bản bảo lãnh phải được công chứng, chứng thực ( theo quy định tại điều 632 BLDS 2005 ). 

 

2. Chủ thể của bảo lãnh:

      Quan hệ bảo lãnh có thể coi là quan hệ tay ba giữa người có quyền, người có nghĩa vụ và người thứ ba ( người bảo lãnh ). Trong quan hệ bảo lãnh, các chủ thể tham gia mối quan hệ trong đó người có quyền là người nhận bảo lãnh, người thứ ba là người bảo lãnh và người có nghĩa vụ là người được bảo lãnh. Người được bảo lãnh có trách nhiệm với người bảo lãnh ( trong trường hợp người bảo lãnh đứng ra bảo lãnh và yêu cầu thù lao ) và người bảo lãnh có nghĩa vụ dân sự với người nhận bảo lãnh ( trong trường hợp người có nghĩa vụ không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình ). Bên nhận bảo lãnh phải có năng lực dân sự đầy đủ, có khả năng tài chính. 

      Bên bảo lãnh có thể là tổ chức, cá nhân có năng lực dân sự đầy đủ, có tài sản riêng. Ngoài ra, có thể có nhiều người bảo lãnh cho một cá nhân trong một quan hệ bảo lãnh

 

3. Đối tượng của bảo lãnh:   

      Trong quan hệ nghĩa vụ dân sự, lợi ích các bên chủ thể hướng tới là lợi ích vật chất. Và trong quan hệ bảo lãnh là việc sử dụng một lợi ích vật chất của chủ thể này để đảm bảo lợi ích vật chất cho chủ thể khác. Vì vậy người bảo lãnh phải có đủ điều kiện mang đến lợi ích vật chất tương đương với lợi ích vật chất mà người nhận bảo lãnh có quyền nhận được từ người có nghĩa vụ. Lợi ích vật chất đó có thể là tài sản hoặc một công việc phải thực hiện.

    Nếu đối tượng của bảo lãnh là công việc phải thực hiện thì trong trường hợp người có nghĩa vụ không thể thực hiện công việc thì người bảo lãnh phải thực hiện công việc đó. 

    Nếu đối tượng của nghĩa vụ dân sự là một khoản tiền hoặc một tài sản có giá trị thì nghĩa vụ của bảo lãnh là tài sản thuộc quyền sở hữu của người bảo lãnh.

     Phạm vi của bảo lãnh có thể là một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ dân sự, nếu không có thỏa thuận gì khác thì người bảo lãnh phải bảo lãnh cả tiền lãi trên nợ gốc trong phạm vi bảo lãnh đồng thời phải bảo lãnh cả tiền phạt cũng như tiền bồi thường thiệt hại. ( theo quy định tại điều 363 BLDS 2005 ).

 

4. Thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh:

     Trong trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ của mình trong thời hạn quy định thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ thay thế cho bên được bảo lãnh. 

    Khi nhiều người cùng bảo lãnh một nghĩa vụ thì họ phải liên đới thực hiện việc bảo lãnh, trừ trường hợp có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định bảo lãnh theo các phần độc lập; bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người bảo lãnh liên đới phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ. Khi một người trong số những người bảo lãnh liên đới đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh thì có quyền yêu cầu những người bảo lãnh còn lại phải thực hiện phần nghĩa vụ của họ đối với mình. ( theo quy định tại điều 365 BLDS 2005 )

    Khi bên bảo lãnh đã hoàn thành nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với mình trong phạm vi bảo lãnh, nếu không có thoả thuận khác.

    Trong trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh, mà bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để thanh toán cho bên nhận bảo lãnh.

 

*Văn bản pháp luật áp dụng:

 - Bộ luật dân sự 2005

ĐỂ BIẾT THÊM THÔNG TIN PHÁP LÝ HOẶC SỬ DỤNG DỊCH VỤ QUÝ KHÁCH VUI LÒNG LIÊN HỆ
CÔNG TY TƯ VẤN VIỆT LUẬT
 
Liên hệ Tư vấn các vấn đề pháp lý vui lòng gọi: 1900 6199
Liên hệ yêu cầu dịch vụ hỗ trợ vui lòng gọi: 0935 886 996 ; Hotline: 0985 989 256 - 0965 999 345
 
Văn phòng Tại Hà Nội:
Địa chỉ: Số 126, Phố Chùa Láng - Đống Đa - Hà Nội
Tel: 02436 856 856 -  02437 332 666 - Email: congtyvietluathanoi@gmail.com
Văn phòng Tại TP Hồ Chí Minh:
Địa chỉ: Số 43/58A Cộng Hòa, Phường 4, Q. Tân Bình, TP.HCM
Tel: 0968 29 33 66
Hãy nhấc máy gọi 1900 6199 để được tư vấn luật hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi với đội ngũ chuyên viên tư vấn giỏi, uy tín, và có tính chuyên nghiệp, tính quốc tế cao, có thể  đáp ứng đầy đủ yêu cầu của khách hàng tốt nhất.