Căn cứ xác lập quyền sở hữu

0
412

  Quyền sở hữu là một nội dung quan trọng ảnh hưởng, tác động đến quan hệ pháp luật dân sự của các chủ thể. Để xác định được tài sản thuộc quyền sở hữu của đối tượng nào, được xác lập từ khi nào thì cần phải dựa theo căn cứ chính xác. Pháp luật đã quy định về căn cứ xác lập quyền sở hữu tại điều 170 BLDS 2005 như sau

  Quyền sở hữu là một nội dung quan trọng ảnh hưởng, tác động đến quan hệ pháp luật dân sự của các chủ thể. Để xác định được tài sản thuộc quyền sở hữu của đối tượng nào, được xác lập từ khi nào thì cần phải dựa theo căn cứ chính xác. Pháp luật đã quy định về căn cứ xác lập quyền sở hữu tại điều 170 BLDS 2005 như sau:

Quyền sở hữu được xác lập đối với tài sản trong các trường hợp sau đây:

1. Do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp;

2. Được chuyển quyền sở hữu theo thoả thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

3. Thu hoa lợi, lợi tức;

4. Tạo thành vật mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến;

5. Được thừa kế tài sản;

6. Chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với vật vô chủ, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên;

7. Chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai phù hợp với thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này;

8. Các trường hợp khác do pháp luật quy định.”

      Với 8 căn cứ trên, tùy thuộc vào nội dung, mối liên quan giữa các chủ thể thì chúng ta có sự phân loại 8 căn cứ vào các nhóm khác nhau.

 

1.Quyền sử hữu được xác lập theo ý chí của các chủ thể thông quan hợp đồng dân sự hoặc giao dịch dân sự một bên.
     Hợp đồng là sự kiện pháp lý trên cơ sở thỏa thuận, thống nhất ý chí của các chủ thể làm phát sinh việc chuyển dịch quyền sở hữu đối với tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác. Các hợp đồng như: mua, bán, tặng cho…nếu được xác lập phù hợp với quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2005, thì những chủ thể được chuyển giao tài sản thông qua các giao dịch hợp pháp đó có quyền sở hữu đối với tài sản được chuyển giao kể từ thời điểm nhận tài sản, nếu là tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu. Đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của pháp luật, thì quyền sở hữu chỉ được xác lập đối với chủ thể được chuyển giao tài sản khi chủ thể này thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản.
 
    Đối với giao dịch dân sự thể hiện ý chí của một bên chủ thể như một người lập di chúc để lại tài sản của mình cho một người khác, người được thừa kế di chúc sẽ được quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản kể từ thời điểm mở thừa kế. Tuy nhiên, một vấn đề cần lưu ý rằng, quyền sở hữu tuy có thể phát sinh từ thời điểm mở thừa kế, nhưng đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, người được thừa kế tài sản muốn có đầy đủ các quyền năng như sử dụng, định đoạt tài sản, thì người được thừa kế tài sản cũng phải thực hiện các thủ tục đăng ký quyền sở hữu theo quy định của pháp luật.
 
2.Quyền sở hữu tài sản được xác lập theo quy định của pháp luật bao gồm các căn cứ sau đây:

– Xác lập quyền sở hữu tài sản có được do lao động, do hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp: kết quả của lao động sản xuất là sự hoạt động của con người tác động vào thế giới tự nhiên tạo ra của cải vật chất vì vậy chủ thể bỏ sức lao động để tạo ra của cải thì có quyền trở thành chủ sở hữu đối với của cải ấy. 

– Xác lập quyền sở hữu tài sản do được thừa kế theo pháp luật: Thông qua việc nhận di sản thừa kế theo pháp luật, quyền sở hữu của một người nào đó được xác lập đối với các tài sản mà họ đã nhận từ di sản của người đã chết.

– Xác lập quyền sở hữu tài sản do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến: sự sáp nhập, trộn lẫn, chế biến là sự hợp nhất tài sản của các chủ thể khác nhau. Kể từ thời điểm sự kiện pháp lý xảy ra thì tài sản sẽ thuộc sở hữu chung hoặc riêng của các chủ thể đó. Những chủ sở hữu mới phải thanh toán phần giá trị tài sản theo quy định tại khoản 2 điều 236, 237 BLDS 2005.    

– Xác lập quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu, vật bị chôn giấu, vật bị đánh rơi, vật bị bỏ quên: khi sự kiện pháp lý xảy ra ( khi không xác định được ai là chủ sở hữu của vật, khi phát hiện ra vậy bị chôn giấu, bị đánh rơi, bị bỏ quên ) thì sẽ phát sinh quan hệ dân sự giữa chủ sở hữu, người phát hiện ra tài sản và nhà nước. Tùy theo thời gian phát hiện, loại tài sản và giá trị tài sản đó thì quyền sở hữu sẽ được pháp luật quy định theo những cách khác nhau.

– Xác lập quyền sở hữu đối với gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên: Khi phát hiện ra gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc thì người phát hiện phải thông báo công khai trong một thời gian ( tùy thuộc vào đối tượng ) theo quy định của pháp luật trước khi xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó.
– Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do pháp luật quy định nhưng ngay tình, liên tục, công khai phù hợp với thời hiệu quy định tại Khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này;
 

3. Xác lập quyền sở hữu theo những căn cứ riêng biệt:

Ngoài những căn cứ trên, quyền sở hữu còn được xác lập dựa theo những căn cứ khác như: bản án, quyết định của tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

 Ngoài ra, quyền sở hữu của chủ thể còn được xác lập theo thời hiệu do pháp luật quy định. 

 

* Văn bản pháp luật áp dụng:

– Bộ luật dân sự 2005