Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự – Cá Nhân- Tình trạng không có năng lực hành vi

0
138

Tình trạng không có năng lực hành vi.  Gọi là không có năng lực hành vi người ở  trong   tình trạng không thể tự mình thực hiện các quyền  và nghĩa  vụ  mà mình  là chủ  thể. Tình  trạng không có năng lực hành vị, trong luật thực định Việt Nam, có hai cấp    độ:

Tình trạng không có năng lực hành vi
1.    Tổng quan
    Khái niệm
Tình trạng không có năng lực hành vi.  Gọi là không có năng lực hành vi người ở  trong   tình trạng không thể tự mình thực hiện các quyền  và nghĩa  vụ  mà mình  là chủ  thể. Tình  trạng không có năng lực hành vị, trong luật thực định Việt Nam, có hai cấp    độ:
–    Hoàn toàn không có năng lực hành vi.  Những người  hoàn  toàn  không có  năng lực  hành vi bao gồm người chưa đủ  sáu tuổi và người mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các  bệnh khác     mà không thể làm chủ được hành vi của mình và bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi  (Ðiều 21 và 22).
–    Có năng lực hành vi không đầy đủ. Người có năng lực hành vi không đầy đủ là người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi54: người này chỉ có thể xác lập các giao dịch  phục vụ   cho

vào cuộc sống riêng tư của cá nhân: xem, Gia đình, nxb Trẻ, 2002, số 305 ghi chú 252
52 Cụm từ “hiện còn” không rõ nghĩa lắm. Nếu người nhận tài sản thừa kế dùng tài sản thu được từ vụ chuyển nhượng để mua hoặc đổi lấy một tài sản khác, thì liệu người này phải trả tài sản mới đó hoặc chỉ trả giá trị của tài
sản dùng để mua hoặc đổi ?
53  Thế nhưng, người giấu giếm sẽ không ở trong tình trạng không có quyền hưởng di sản của người bị tuyên bố     là đã chết sau khi người sau này chết thật; bởi trong các trường hợp ghi nhận tại BLDS Điều về tình trạng không   có quyền hưởng di sàn, không có trường hợp nêu tạI Điều 83 khoản 3 đã dẫn. Vậy, ngườI bị buộc phải hoàn trả
tài sản sẽ  có cơ hội thu lại những tài sản đó sau khi người bị tuyên bố là đã chết chết thật, nếu người sau này  không chủ động truất quyền hưởng di sản của người đó bằng di chúc..
54 Có ý kiến cho rằng người phụ nữ chưa đủ 18 tuổi cũng được coi là có năng lực hành vi đầy đủ, nếu kết hôn. Ý kiến này xuất phát từ nhận xét theo đó, Luật hôn nhân và gia đình, khi quy định tuổi kết hôn tối thiểu, đã như cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
Tình trạng có năng lực hành vi không đầy đủ lại được chia thành hai cấp độ: người từ đủ  6  tuổi đến chưa đủ 15 tuổi chỉ có quyền xác lập các giao dịch gọi nôm na là “lặt  vặt”; người  chưa thành niên từ đủ mười lăm tuổi  trở  lên được phép xác  lập  các  giao  dịch quan trọng, nếu có tài sản riêng đủ để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và nếu pháp luật không có quy định  khác (Điều 20)55.
Không có năng lực hành vi và không có  năng  lực pháp  luật.  Không có  năng lực  pháp luật được hiểu là tình trạng không có khả năng hưởng quyền, không có khả năng  trở thành   chủ thể của quyền (suy lý ngược BLDS Điều 14). Năng lực pháp luật có thể được hình dung theo nghĩa tích cực – khả năng hưởng quyền, hoặc theo nghĩa tiêu cực- khả năng đảm nhận nghĩa vụ. Bởi vậy, tình trạng không có năng lực pháp luật cũng có thể được ghi nhận theo hai khía cạnh đó.
Năng lực pháp luật là tiền đề của năng lực hành vi. Vấn đề có hay không có năng lực hành vi chỉ được đặt ra trong trường hợp đương sự  có năng lực pháp luật:  nếu đương  sự không có  khả năng hưởng quyền, đảm nhận nghĩa vụ, thì không cần thiết đặt vấn đề thực hiện quyền, nghĩa vụ.
Vả lại, tình trạng mất năng lực hành vi có thể được khắc phục; còn tình trạng mất năng lực pháp luật thì không. Người không có năng lực hành vi vẫn có thể xác lập một số giao dịch thông qua vai trò của người đại diện, trừ những giao dịch mà theo quy định  của pháp luật   phải do chính chủ thể xác lập và thực hiện56, như sẽ thấy sau đây; trong khi đó, tình trạng mất năng lực pháp luật là không thể cứu chữa: người không có năng lực pháp luật không thể xác  lập giao dịch bị cấm, dù dưới hình thức nào và bằng cách nào57.
Không có năng lực đặc biệt và không có năng lực tổng quát. Trong học thuyết pháp lý latinh, còn có sự phân biệt giữa không có năng lực trong một số trường hợp (gọi là không có năng lực đặc biệt) và không có năng lực trong mọi trường hợp (gọi là không có năng lực tổng quát).

–  Không có năng lực đặc biệt là tình trạng không có năng lực đối với một số giao dịch được  xác định cụ thể.
•    Không có năng lực hành vi đậc biệt là tình trạng không được tự mình trực tiếp thực hiện một hoặc nhiều quyền hoặc nghĩa vụ mà mình là chủ thể. Người  không có năng lực    hành vi đặc biệt vẫn có thể tự mình thực hiện tất cả những quyền và nghĩa vụ không bị cấm thực hiện. Ví dụ, người từ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không có quyền tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch mang tính chất định đoạt đối với các tài sản có giá trị lớn, nhưng vẫn có quyền tự mình quản lý  tài sản của mình và thậm chí tự mình định đoạt những tài sản có giá   trị không lớn. Người thuộc giới tính nam đã thành niên mà chưa đủ 20 tuổi không thể kết hôn, nhưng có thể giao kết tất cả các loại hợp đồng dân sự, lập di chúc,…
•    Không có năng lực pháp luật đặc biệt là tình trạng không có khả năng hưởng một  hoặc nhiều quyền cụ thể. Người không có năng lực pháp luật đặc biệt vẫn có khả năng hưởng các quyền không bị cấm hưởng. Ví dụ, người chưa được 18 tuổi không có năng lực pháp luật kết hôn; người chưa đủ 14 tuổi không có năng  lực chịu trách nhiệm hình sự, nhưng vẫn có

không đòi hỏi người phụ nữ phải đủ 18 tuổi. Thực ra, câu chữ của điều luật liên quan đến tuổi kết hôn tối thiểu trong Luật hôn nhân và  gia đình không phản ánh trung thực  ý chí của  người làm luật. Trong khung cảnh của  chính sách dân số, người làm luật không bao giờ khuyến khích viêc kết hôn của người chưa thành niên. Chẳng    qua, khi soạn thảo điều luật về tuổi kết hôn, người làm luật, dường như hơi “mất tập trung”, đã lấy lại câu chữ     của các Luật hôn nhân và gia đình trước đây.
55 Theo Luật hôn nhân và gia đình Điều 46 khoản 2, người chưa thành niên đủ 15 tuổi muốn định đoạt tài sản có
giá trị lớn hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ. Điều này có nghĩa rằng càng có nhiều tài sản, người chưa thành niên đủ 15 tuổi càng gần với tình trạng có đủ năng lực hành     vi và sự giám sát của người đại diện càng được thu hẹp lại
56 Xin ly hôn, chẳng hạn
57 Bởi vậy, trong nhiều trường hợp, đặt một người vào tình trạng mất năng lực pháp luật được hình dung như một biện pháp chế tài. Ví dụ điển hình là việc cấm hành nghề, cấm đảm nhiệm một số chức vụ…. như là hình phạt bổ sung đối với người bị kết án về một số tội trong lĩnh vực kinh tế.
 
năng lực pháp luật thừa kế.
– Không có năng lực tổng quát là tình trạng không có năng lực đối với tất cả các loại  giao  dịch. Tình trạng không có năng lực hành vi có thể mang tính chất tổng quát: có những người (không có năng lực hành vi) không được phép tự mình thực hiện bất kỳ  một giao dịch nào,    dù quan trọng hay không quan trọng. Ví dụ điển hình là trường hợp người chưa đủ 6 tuổi.
Trái lại, tình trạng không có năng lực pháp luật chỉ được ghi nhận theo trường hợp.  Nói rõ  hơn, không thể có tình trạng mất năng lực pháp luật tổng quát, đặc trưng bằng  việc  một   người không có khả năng hưởng bất kỳ một quyền nào và cũng không thể  đảm  nhận  bất       ký nghĩa vụ nào. Không có năng lực pháp luật tổng quát,  đương sự  không phải là chủ thể    của quan hệ pháp luật và đó là điều không thể chấp nhận được  trong một xã hội tôn trọng
quyền con người58.
Trong trường hợp một quyền nào đó tồn tại trong thời gian không xác định, thì tình trạng  không có năng lực pháp luật phải được giới hạn trong thời gian, để, đến một lúc nào đó, chủ  thể có thể khôi phục năng lực hưởng quyền đó. Chẳng hạn, quyền tự do kinh doanh tồn tại chừng nào chủ thể còn tồn tại; một chủ thể có thể mất năng lực pháp luật kinh doanh
    Tính chất ngoại lệ của tình trạng không có năng lực hành vi
Trên nguyên tắc, mỗi người sinh ra đều có năng lực hành vi để giao tiếp, xác lập, thực  hiện  các quyền và nghĩa vụ của mình trong cuộc sống dân sự. Thế nhưng, nguyên tắc  này  chỉ   được áp dụng trong chừng mực chủ thể có khả năng chịu trách nhiệm về những hệ quả          của hành vi do mình  thực  hiện.  Khả  năng  chịu  trách  nhiệm,  về  phần  mình, được lý giải bởi khả năng nhận thức của chủ thể về tính chất của giao dịch do  mình  xác  lập,  về  tầm   quan trọng của những hệ quả phát sinh từ  giao  dịch  đó.  Do  những  nguyên  nhân  khác  nhau, không phải ai cũng có được khả năng nhận thức đó; bởi vậy, trong một số trường hợp  đặc thù, nguyên tắc này phải bị gạt bỏ và thay vào đó, các ngoại lệ của nguyên tắc được thừa nhận.
Ngoại lệ do điều kiện tự nhiên. Các ngoại lệ do điều kiện tự nhiên bao gồm tình trạng hoàn toàn không có năng lực hành vi do chưa đủ 6 tuổi và tình trạng có năng lực hành vi không đầy đủ do chưa đủ 18 tuổi. Những người chưa đủ 18 tuổi được cho là chưa  đủ chín mùi về thể   chất để có thể nhận thức đầy đủ về ý nghĩa,  tác động xã hội,  pháp  lý của hành vi do mình  thực hiện. Sự suy đoán là không thể đảo ngược, nghĩa là không ai có thể nói khác đi.
Ngoại lệ do điều kiện tự nhiên được áp dụng mà không cần một thủ tục pháp lý nào:  chừng  nào đương sự chưa đạt đủ 18 tuổi, tình trạng chưa đủ năng lực hành vi được  thiết lập một   cách đương nhiên.
Ngoại lệ do quy định của pháp luật. Các ngoại lệ do quy định của pháp luật bao gồm tình trạng mất năng lực hành vi do không nhận thức được hành vi của mình và tình  trạng hạn      chế năng lực.
Khác với ngoại lệ do điều kiện tự nhiên, ngoại lệ do pháp luật quy định đòi hỏi sự can thiệp  của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong điều kiện đương sự đang được thừa nhận hoàn  toàn có đủ năng lực hành vi, nhưng không xứnbg đáng với sự thừa nhận đó nữa, do những khiếm khuyết nghiêm trọng về thể chất hoặc về nhân cách. Bởi vậy:
–    Người mắc bệnh gì đó mà không nhận thức được hành vi của mình vẫn là người có  năng  lực hành vi đầy đủ cho  đến khi nào bị đặt trong tình trạng mất  năng lực hành vi  bằng  một  bản án của Toà án59. Tương tự, người thường xuyên có hành vi phá tán tài  sản vẫn có năng   lực hành vi  đầy đủ  và vẫn  có  quyền  tự  mình xác lập  mọi giao dịch  (bao gồm các giao dịch

58  Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, người nô lệ thực sự là người không có năng lực pháp luật tổng quát và không có  tư cách chủ thể. Đó chỉ là một thứ tài sản của chủ nô.
Ở Pháp, có thời kỳ cá nhân có thể bị tuyên phạt “chết dân sự” (mort civile). Với hình phạt đó, cá nhân vẫn sống  về phương diện vật chất, nhưng không còn được coi là tồn tại về mặt pháp lý. Đây thực sự là tình trạng mất năng lực pháp luật tổng quát. Hình phạt này đã bị huỷ bỏ từ năm 1954.
59  Do người này vẫn có năng lực hành vi đầy đủ mà trong trường hợp người cùng giao kết hợp đồng muốn vô    hiệu hoá hợp đồng với lý do người này không nhận thức được hành vi của mình, thì chình người cùng giao kết  phải chứng minh điều đó.
 
có tính chất phá tán) chừng nào chưa bị tuyên bố hạn chế năng lực hành vi bằng một bản án  của Toà án.
–    Người đã bị đặt trong tình trạng mất năng lực hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi  bằng một bản án của Toà án sẽ ở trong tình trạng này, chừng nào bản án chưa được dỡ bỏ, ngay cả trong trường hợp đã khôi phục hoàn toàn khả năng nhận thức của mình hoặc đã chấm dứt hoàn toàn các hoạt động mang tính chất phá tán tài sản.
    Lý lẽ của nguyên tắc và ngoại lệ
    Lý lẽ của nguyên tắc
Hệ quả tất yếu của việc thừa nhận sự bình đẳng giữa các chủ thể. Việc thiết lập  nguyên  tắc theo đó, mỗi người đều được thừa nhận có đầy đủ  năng  lực hành  vi  xuất  phát  từ  một quy tắc cơ  bản của luật về quyền  chủ  thể: mỗi người đều được đối xử  ngang nhau trong   việc xác lập tư cách chủ thể của các quyền; mỗi người có quyền đều được đối xử ngang nhau trong việc thực hiện quyền của mình. Quy tắc đó có nguồn  gốc từ sự tự do của con người và   từ chân lý “con người sinh ra bình đẳng”.
    Lý lẽ của ngoại lệ
Sự khác biệt giữa các chủ thể. Sự đối xử ngang nhau dành cho các chủ thể chỉ tỏ ra hợp lý một khi các chủ thể có khả năng nhận thức,  khả năng chịu  trách  nhiệm ngang  nhau, cũng  như đều xứng đáng như nhau trong việc hưởng quyền, đảm nhận nghĩa vụ. Trên thực tế, điều này không phải lúc nào cũng được bảo đảm. Một cách hợp lý,  các  chủ  thể  khác  nhau  về  khả năng nhận thức, chịu trách nhiệm hoặc ở những mức độ  xứng đáng khác nhau sẽ được    đối xử không giống nhau.
Tình trạng không có năng lực hành vi. Tình trạng không có  năng lực hành vi  được  thiết  lập nhằm mục đích cao nhất là bảo vệ những người không có năng lực, chống lại việc người này tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản của mình trong điều kiện không có hoặc không đủ khả năng đánh giá tầm quan trọng của các hệ quả pháp lý mà giao dịch ấy có thể mang lại cho mình.
Tính chất bảo vệ đối với người không có năng lực hành thể hiện rõ nét ở việc tổ chức và vận hành cơ chế đại diện cho người không có năng lực hành vi, như ta sẽ thấy. Cơ  chế đại diện  cho phép cả sự giám sát và sự can thiệp của người đại diện vào các giao dịch xác lập nhân  danh người không có năng lực hành vi.
Không có năng lực pháp luật. Trái lại, tình trạng không có năng lực pháp  luật được  thiết   lập với các mục đích đa dạng, được xác định gần như tuỳ theo trường hợp
Có trường hợp không có năng lực pháp luật được hiểu như một biện pháp chế tài.  Chẳng    hạn, người bị kết án về tội tham ô không có năng lực pháp luật đảm nhận các  công  việc    mang tính chất quản lý tài sản của người khác; người bị kết án về các tội xâm phạm  tính  mạng, danh dự, nhân phẩm của trẻ em không có năng lực pháp luật nuôi con nuôi.
Có trường hợp không có năng lực pháp luật được hiểu là biện pháp bảo vệ đương sự. Ví dụ điển hình là tình trạng không có năng lực chịu trách nhiệm hình sự của người  chưa  đủ  14 tuổi, của người không nhận thức được hành vi của mình: người này,  dù  phạm tội, không   thể chịu hình phạt mà được xử lý bằng những biện pháp đặc biệt có    tác dụng
Có trường hợp không có năng lực pháp luật mang ý nghĩa kép: vừa bảo vệ đương sự,  vừa    bảo vệ người thứ ba chống lại những hành động thiếu suy nghĩ của đương sự có thể dẫn đến  hậu quả bất lợi cho người thứ ba, thậm chí cho xã hội. Ví dụ điển hình là tình trạng không có năng lực pháp luật lập di chúc của người chưa đủ 15 tuổi: người này có thể định đoạt tài sản của mình một cách thiếu suy nghĩ, nhưng cũng có thể định đoạt tài sản của người khác mà không biết. Tình trạng không có năng lực chịu trách nhiệm hình sự của người dưới 14 tuổi  cũng có thể được hiểu theo nghĩa kép đó: một mặt, người phạm tội dưới 14 tuổi không chịu trách nhiệm hình sự; mặt khác, nạn nhân của người phạm tội dưới 14 tuổi có thể được bảo vệ trong trường hợp người phạm tội  chịu sự xúi giục của người khác.