Điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài

Thẩm quyền của trọng tài thương mại được xác định theo quy định pháp luật tại Điều 2 Luật trọng tài thương mại 2010 và được xác lập bởi thỏa thuận giữa các bên tranh chấp. Tuy nhiên, để có thể xác lập thẩm quyền của Trọng tài cụ thể, thỏa thuận trọng tài phải thỏa mãn một số điều kiện để có hiệu lực và không thuộc các trường hợp bị xem là thỏa thuận trọng tài vô hiệu hay thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được

Thẩm quyền của trọng tài thương mại được xác định theo quy định pháp luật tại Điều 2 Luật trọng tài thương mại 2010 và được xác lập bởi thỏa thuận giữa các bên tranh chấp. Tuy nhiên, để có thể xác lập thẩm quyền của Trọng tài cụ thể, thỏa thuận trọng tài phải thỏa mãn một số điều kiện để có hiệu lực và không thuộc các trường hợp bị xem là thỏa thuận trọng tài vô hiệu hay thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được.

 

1. Điều kiện hiệu lực của thỏa thuận Trọng tài:

Thỏa thuận trọng tài có hiệu lực khi thỏa mãn các điều kiện về hình thức, năng lực chủ thể cũng như nội dung. Ngược lại, thỏa thuận trọng tài không thỏa mãn các điều kiện này thì bị xem là vô hiệu. Cần lưu ý rằng, ngoài các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu theo quy định của Luật trọng tài thương mại  2010, thỏa thuận trọng tài cũng có bị xem vô hiệu hoặc có thể bị tuyên bố vô hiệu theo quy định của Bộ luật dân sự 2005, vì thỏa thuận trọng tài cũng là giao dịch dân sự theo quy định của Bộ luật này.

 

Điều kiện về hình thức:

 

Khoản 2 Điều 16 Luật trọng tài thương mại 2010 quy định:

Thoả thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản. Các hình thức thỏa thuận sau đây cũng được coi là xác lập dưới dạng văn bản:

a) Thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;

b) Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên;

c) Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;

d) Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác;

đ) Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận.

 

Cũng như các yêu cầu về hình thức văn bản trong trường hợp khác, yêu cầu hình thức văn bản đối với thỏa thuận trọng tài là nhằm đảm bảo khả năng chứng minh một cách dễ dàng hơn về sự tồn tại của một thỏa thuận trọng tài cũng như các nội dung chứa đựng trong đó.  Quy định của Luật trọng tài thương mại  2010 về hình thức của thỏa thuận trọng tài về cơ bản là tương ứng với phương án I (Option I) của Điều 7 Luật mẫu của UNCITRAL về trọng tài thương mại quốc tế.

 

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 18 Luật trọng tài thương mại  2010, thỏa thuận trọng tài không thõa mãn điều kiện nêu trên về hình thức thì sẽ xem là vô hiệu. Như vậy thỏa thuận trọng tài bằng lời nói hay bằng hành vi cụ thể là không có giá trị pháp luật.

 

Điều kiện về chủ thể:

 

Khoản 2 và Khoản 3 Điều 18 Luật trọng tài thương mại 2010 quy định:

“  2. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

3. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự.

 

Theo quy định trên, trường hợp bên tranh chấp là doanh nghiệp tư nhân thì người có thẩm quyền xác lập thỏa thuận trọng tài cho doanh nghiệp tư nhân đó là chủ doanh nghiệp tư nhân với tư cách là người đại diện theo pháp luật hoặc người khác do chủ doanh nghiệp ủy quyền. Đối với bên tranh chấp là công ty các loại thì người có thẩm quyền xác lập thỏa thuận trọng tài cho công ty đó là người đại diện theo páp luật cho công ty hoặc người đại diện theo pháp luật ủy quyền. Đối với công ty hợp doanh thì người đại diện là bất kỳ thành viên hợp danh nào.

Các bên của thỏa thuận trọng tài (không đồng nghĩa với xác lập thỏa thuận trọng tài) phải được tự do ý chí trong quá trình xác lập thỏa thuận trọng tài, nghĩa là không được bị lữa dối, bị đe dọa hay bị cưỡng ép. Sự lừa dối, đe dọa hay cưỡng ép không nhất thiết phải do bên kia mà có thể do bất kỳ bên thứ ba nào thực hiện. Tuy nhiên, trong trường hợp một bên của thỏa thuận trọng tài bị lừa dối, đe dọa hay cưỡng ép, thì thỏa thuận trọng tài chi bị tuyên bố vô hiệu khi có yêu cầu của bên đó.

 

Điều kiện về nội dung:

Về mặt nội dung theo quy định tại Khoản 1 Điều 18 Luật trọng tài thương mại  2010, tranh chấp được thỏa thuận giải quyết bằng trọng tài phải thuộc thẩm quyền của trọng tài. Thỏa thuận đưa tranh chấp không thuộc thẩm quyền chung của trọng tài (quy định tại Điều 2 Luật trọng tài thương mại  2010 ) ra trọng tài giải quyết thì thỏa thuận đó vô hiệu.

Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật cũng vô hiệu. Mặc dù, Luật trọng tài thương mại  2010 không đưa thỏa thuận trọng tài vi phạm đạo đức xã hội vào diện thỏa thuận trọng tài vô hiệu, nhưng thỏa thuận như vậy cũng sẽ vô hiệu theo quy định của Bộ luật Dân sự.

 

  

 

2. Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được:

 

Thỏa thuận trọng tài mặc dù có hiệu lực, nhưng trong nhưng trường hợp nhất định lại không thể thực hiện được. Luật trọng tài thương mại  2010 quy định ba trường hợp theo đó thỏa thuận trọng tài bị coi là không thể thực hiện được và cách thức khắc phục tình trạng đó cũng như hậu quả pháp lý của việc không khắc phục được tình trạng một thỏa thuận trọng tài có hiệu lực nhưng không thể thực hiện được. Cụ thể như sau:

 

Thứ nhất, theo quy định tại Khoản 3 Điều 43 thì: “ Trường hợp các bên đã có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài cụ thể nhưng Trung tâm trọng tài này đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa, thì các bên có thể thỏa thuận lựa chọn Trung tâm trọng tài khác; nếu không thỏa thuận được, thì có quyền khởi kiện ra Tòa án để giải quyết.” Trong trường hợp này thực chất sự “ không thể thực hiện được ” của thỏa thuận trọng tài đã xảy ra. Quy định “ các bên có thể thỏa thuận lựa chọn Trung tâm trọng tài khác ” chỉ có tính chất hướng dẫn, không làm phát sinh nghĩa vụ thỏa thuận của các bên. Một bên tranh chấp có thể lập tức khởi kiện tại tòa án mà không đòi hỏi việc không đạt được thỏa thuận mới. Trường hợp các bên thỏa thuận được trung tâm trọng tài khác, thỏa thuận đó được coi là thỏa thuận trọng tài mới.

 

Thứ hai, theo quy định tại Khoản 4 điều 43 thì “ Trường hợp các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà Trọng tài viên không thể tham gia giải quyết tranh chấp, thì các bên có thể thỏa thuận lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế; nếu không thỏa thuận được, thì có quyền khởi kiện ra Tòa án để giải quyết. ”. Tương tự trường hợp thứ nhất nêu trên, đây cũng là một thỏa thuận trọng tài “ không thể thực hiện được ”. Quy định “ các bên có thể thỏa thuận lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế ” cũng chỉ có tính chất hướng dẫn và không làm phá sinh nghĩa vụ thỏa thuận của các bên. Một bên tranh chấp có thể lập tức khởi kiện tại tòa án mà không đòi hỏ việc không đạt được thỏa thuận mới. Trường hợp các bên thỏa thuận được trọng tài viên khác, thỏa thuận đó được coi là thỏa thuận trọng tài mới.

 

Thứ ba, theo quy định tại Khoản 5 Điều 43 thì  “ Trường hợp các bên đã có thỏa thuận trọng tài nhưng không chỉ rõ hình thức trọng tài hoặc không thể xác định được tổ chức trọng tài cụ thể, thì khi có tranh chấp, các bên phải thỏa thuận lại về hình thức trọng tài hoặc tổ chức trọng tài cụ thể để giải quyết tranh chấp. Nếu không thỏa thuận được thì việc lựa chọn hình thức, tổ chức trọng tài để giải quyết tranh chấp được thực hiện theo yêu cầu của nguyên đơn.” Khác với hai  trường hợp trên, trong trường hợp này thỏa thuận trọng tài chỉ trở nên không thể  thực hiện được khi các bên không thỏa thuận lại được về hình thức trọng tài hoặc tổ chức trọng tài cụ thể để giải quyết tranh chấp. Quy định “ các bên phải thỏa thuận lại ” làm phát sinh nghĩa vụ thỏa thuận các bên. Như vậy, bên khởi kiện chi được tự quyết định về hình thức, tổ chức trọng tà khi có bằng chứng về việc các bên không đạt được thỏa thuận. Cũng khác với hai trường hợp trên, trong trường hợp thỏa thuận trọng tài không chỉ rõ hình thức trọng tài hoặc không thể xác định được tổ chức trọng tài cụ thể thì thỏa thuận đó vẫn có giá trị loại trừ thẩm quyền của tòa án. Một bên không thể khởi kiên ra tòa án. 

 

3. Văn bản pháp luật áp dụng:

Luật trọng tài thương mại 2010.