Nội dung cơ bản của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

0
89

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hay còn gọi là trách nhiệm dân sự do gây ra thiệt hại, là một chế định quan trọng trong luật dân sự Việt Nam. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lí, là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước theo đó người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra khi hành vi đó được thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm tới tài sản. sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, và các quyền nhân thân khác của cá nhân, tài sản, danh dự, uy tín của pháp nhân hoặc các chủ thể khác.

    Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hay còn gọi là trách nhiệm dân sự do gây ra thiệt hại, là một chế định quan trọng trong luật dân sự Việt Nam. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lí, là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước theo đó người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra khi hành vi đó được thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm tới tài sản. sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, và các quyền nhân thân khác của cá nhân, tài sản, danh dự, uy tín của pháp nhân hoặc các chủ thể khác.

 

1. Quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:

     Nội dung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định tại điều 307 BLDS năm 2005 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại cụ thể như sau :

“ 1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp về tổn thất tinh thần.

2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp về tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lí để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

3. Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại.”

 

2. Bản chất của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:

    Với bản chất là một loại trách nhiệm dân sự và chịu điều chỉnh của pháp luật dân sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh khi một người gây tổn thất vật chất, sức khỏe, tính mạng hay danh dự, nhân phẩm, uy tín của một người khác và người gây thiệt hại phải bồi thường cho người có thiệt hại theo quy định của pháp luật. 

    Khi có thiệt hại, cả chủ thể gây thiệt hại lẫn chủ thể có thiệt hại đều chịu mức tổn thất nhất định. Đối với chủ thể gây thiệt hại thì phải chịu hậu quả bất lợi về tài sản khi thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại bởi lẽ khi một người gây tổn thất thì tổn thất đó phải được tính toán thành tiền hoặc một đại lượng vật chất nào đó

    Chủ thể áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại thường sẽ là chủ thể gây thiệt hại, tuy nhiên vẫn có trường hợp trách nhiệm này được áp dụng với chủ thể khác như cha, mẹ , người giám hộ ( đối với người gây thiệt hại chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự ), pháp nhân ( khi người của pháp nhân gây thiệt hại ),…

 

3. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:

     Để xác định rõ thiệt hại, nguyên nhân gây thiệt hại, người bồi thường, mức độ bồi thường và quy định của pháp luật áp dụng vào vấn đề bồi thường thì chúng ta cần dựa vào những điều kiện nhất định. Trong BLDS 2005 không quy định cụ thể về các điều kiện song xét trên những quy định của pháp luật nói chung và luật dân sự nói riêng thì điều kiện phát sinh trách nhiệm được tổng hợp thành 4 điều kiện quy định trong nghị quyết số 03/2006 HĐTP – TANDTC ngày 08/7/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS 2005 về bồi thường thiệt hại:

* Có thiệt hại xảy ra:

– Thiệt hại về vật chất: bị mất tài sản, hư hỏng tài sản, ảnh hưởng đến công dụng của tài sản, phá hủy tài sản hoặc những chi phí để sửa chữa, thay thế, ngăn chặn hư hỏng cho tài sản.

– Thiệt hại về sức khỏe, tính mạng: phát sinh thiệt hại về vật chất cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc, phục hồi chức năng hoặc chi phí cho việc mai táng, ma chay ( khi bị thiệt hại về tính mạng ) hoặc thiệt hại do nguồn thu nhập bị mất hoặc giảm sút.

– Thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín thì phát sinh chi phí để khắc phục hậu quả và bồi thường cho hậu quả của việc thiệt hại danh dự, nhân phẩm, uy tín.

– Thiệt hại về tinh thần: là thiệt hại mà người bị thiệt hại hoặc người thân

thiết gần gũi của người bị thiệt hại ( trong trường hợp có thiệt hại về tính mạng ) phải gánh chịu.

* Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật.

Tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức là những đối tượng được pháp luật bảo vệ, cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi xâm phạm đến những đối tượng này được coi là có hành vi trái pháp luật.

* Có quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật.

Khi có thiệt hại xảy ra, chúng ta cần xác định rõ nguyên nhân gây thiệt hại là từ đâu, thiệt hại như thế nào, ai phải chịu trách nhiệm khi có thiệt hại? Xác định chính xác được nguyên nhân gây thiệt hại, môi quan hệ nhân quả thì sẽ tránh được những sai lầm khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại. 

*  Có lỗi của người gây thiệt hại.

Lỗi là trạng thái tâm lí của con người có khả năng đánh giá và nhận thức được hành vi của mình là đúng hay sai và hậu quả của hành vi đó. Vì vậy trong nhiều trường hợp, khi chủ thể chưa có đủ hoặc không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi thì không bị coi là có lỗi khi có thiệt hại xảy ra.

 

* Văn bản pháp luật áp dụng:

Bộ luật dân sự 2005.