Hỏi: Xin chào luật sư, mong nhận được tư vấn của luật sư cho vấn đề sau: Tôi có đến nhờ văn phòng luật sư X giải quyết làm thủ tục tách thửa đất.

Khái niệm - Quyền sở hữu bề mặt, trong khung cảnh của luật thực định Việt  Nam, là quyền sở hữu của một người không có quyền sử dụng đất đối với các tài sản gắn liền với đất đó. Quyền sử dụng đất trong định nghĩa này được hiểu như một tài sản (nghĩa là có  thể  chuyển nhượng được); nó có  thể thuộc về một  người khác (ví  dụ: người cho thuê quyền sử dụng đất ở, đất chuyên dùng) hoặc không tồn tại (như trong trường hợp  người có quyền sở hữu đối với các tài sản gắn liền với đất chỉ là người được Nhà nước cho thuê đất trả tiền  thuê hàng năm). Sự phát triển của chế định quyền sở hữu bề mặt trong luật hiện đại Việt Nam gắn liền với quá trình hoàn thiện hệ thống  pháp luật đất đai

Đặt vấn đề - Theo chương XIII BLDS, quyền sở hữu tồn tại dưới các hình thức sau đây: sở  hữu nhà nước; sở hữu tập thể; sở hữu tư nhân; sở hữu chung; sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -xã hội; sở hữu của tổ chức chính trị xã hội-nghề  nghiệp, tổ chức xã hội, tổ  chức xã hội nghề nghiệp. Chúng ta có thể chia các hình thức sở hữu này thành hai nhóm: sở hữu có một chủ sở hữu và sở hữu có nhiều chủ sở hữu

Dẫn nhập - Vấn đề bằng chứng về quyền sở hữu không chỉ được đặt ra mỗi  khi có tranh  chấp. Trong trường hợp tài sản phải đăng ký quyền sở hữu và việc đăng  ký được thực hiện   lần đầu, thì người yêu cầu đăng ký phải chứng minh quyền sở hữu  của mình đối với tài sản  liên quan, trước cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Một khi  các bằng chứng về quyền  sở     hữu được thiết lập đầy đủ, người đăng ký lần đầu được cấp giấy chứng  nhận  quyền  sở  hữu  tài  sản  và  giấy chứng nhận này trở  thành  bằng  chứng thay thế cho các bằng chứng khác     về quyền sở hữu trong thực tiễn các  giao  dịch

Theo BLDS Điều 170, “Quyền sở hữu được xác lập đối  với tài sản  trong  các  trường hợp  sau đây: do lao động, do hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp; được chuyển giao  quyền  sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo quyết  định  của  cơ  quan  Nhà  nước có thẩm quyền; thu  hoa lợi, lợi tức; tạo thành vật mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế  biến; được thừa kế tài sản;  chiếm hữu trong các trường hợp do pháp luật quy định đối với vật vô chủ, vật bị đánh rơi, bị  bỏ quên, bị chôn giấu, gia súc gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên; chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật  nhưng ngay tình, liên tục, công khai phù hợp   với thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều 247 BLDS; và các trường hợp khác do pháp luật quy định”.

Dẫn nhập - Trong bất cứ một chế độ xã hội nào cũng tồn tại những cách thức nhất định về  việc chiếm hữu, làm chủ của cải vật chất của  con  người.  Mối  quan  hệ  giữa  người  với người trong quá trình chiếm hữu của cải vật chất đó làm phát sinh các quan hệ sở hữu. Các quan hệ sở hữu này tồn tại một cách khách quan cùng với sự phát triển của xã hội. Khi Nhà nước và pháp luật ra đời, địa vị của giai cấp thống trị trong việc phân phối của cải vật chất trong xã hội được ghi nhận bằng những quyền năng  hạn chế mà Nhà nước trao cho người  đang chiếm giữ của cải vật chất đó. Lúc này, các quan hệ sở hữu đã được điều chỉnh bằng pháp luật và hình thành nên quyền sở hữu của các chủ thể có tài sản.

Quyền sử dụng đất là một tài sản đặc biệt - Luật hiện hành khẳng định quyền sử dụng đất là một tài sản. Theo luật Đất đai 2003 và BLDS 2005, quyền sử dụng đất là một tài sản có thể chuyển giao cũng như tham gia thị trường bất động sản theo quy  định của pháp luật.

Căn cứ vào nguồn gốc sinh ra của tài sản, ta có cách phân loại tài sản thành  hoa  lợi,  lợi  tức. Điều 175 BLDS quy định: “ Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản  mang lại. Lợi tức là khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản.”. Nói một cách tổng quát, hoa lợi, lợi tức là những vật có giá trị tiền tệ do tài sản sinh ra. Ta gọi tài sản sinh ra hoa lợi, lợi tức là tài sản gốc. Cần lưu ý rằng, việc phân định tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức trong nhiều trường hợp  không thể rạch ròi được bởi có một số trường hợp hoa lợi, lợi tức được tiêu dùng, biến mất hoặc được tích lũy để trở thành tài sản đầu tư (tài sản gốc mới) và tiếp tục sinh lợi. Hoặc có nhiều trường hợp tài sản gốc là tài sản không thể sinh lợi, như vật dụng cá nhân, kỷ vật gia đình...Như vậy, tài sản gốc được hiểu như tài sản để bảo tồn và sản xuất ra những lợi ích vật chất một cách đều đặn, phục vụ cho chủ sở hữu hoặc người có quyền thụ hưởng lợi ích vật chất từ tài sản.

Theo Điều 163 BLDS, “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền  tài  sản.”.

Về phương diện pháp lý, tài sản là của cải được con người sử dụng. “Của cải” là một khái niệm luôn luôn biến đổi và hoàn thiện cùng với sự phát triển của quan niệm   về giá trị vật chất. Ở xã hội La Mã cổ xưa, nhắc đến tài sản người ta liên  tưởng ngay đến  những của cải trong gia đình như ruộng đất, nhà cửa, gia súc...Còn trong xã hội hiện đại ngày nay, ngoài của cải trong gia đình, chúng ta còn có một số loại tài sản đặc biệt, như năng lượng mặt trời, thủy năng, sóng vô tuyến, phần mềm  máy tính...

 Tổ hợp tác là sự kết nhóm của từ 3 cá nhân trở lên, có năng lực hành vi dân  sự  đầy đủ, cùng đóng góp  tài sản, công sức để  thực hiện những công việc  nhất  định, cùng  hưởng lợi ích và cùng chịu trách nhiệm (BLDS Ðiều 111 khoản 1 và Ðiều 112). Trên thực tế,  tổ hợp tác hình thành từ sự thoả thuận giữa những người có cùng nghề nghiệp nông nghiệp hoặc thủ công nghiệp, nhằm tập họp các nỗ lực của cá nhân, tạo thành nỗ lực chung để thực hiện các hoạt động nghề nghiệp đó với hiệu quả cao hơn so với trường hợp cá  nhân hoạt động riêng lẻ. Có thể coi tổ hợp tác  như  là  một  nhân vật pháp lý nằm giữa pháp nhân và nhóm thực tế trong lĩnh vực kinh tế.

Nhóm không có tư cách pháp nhân - Nhóm không có tư cách pháp nhân trong luật  phương Tây không phải là một thực thể pháp lý và không có khả năng đảm nhận tư cách chủ thể của quyền và nghĩa vụ. Luật Việt Nam cũng chấp nhận giải pháp này, nhưng coi đó là giải pháp nguyên tắc. Một cách ngoại lệ, và phù hợp với đặc điểm và trình độ của  nền  kinh  tế  Việt Nam, luật Việt Nam thừa nhận có hai loại chủ thể của  quan hệ pháp luật không có tư  cách pháp nhân mà cũng không phải là cá nhân: hộ gia đình và tổ hợp  tác.

Pháp  nhân có thể  được thành lập trong khuôn khổ xây dựng và hoàn  thiện hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện bộ máy Nhà nước hoặc theo ý chí của các chủ  thể của quyền  và nghĩa vụ được luật thừa nhận.

Pháp nhân công pháp và pháp  nhân  tư pháp. Tạm gọi  là  pháp  nhân công pháp trong  luật Việt Nam, các tổ  chức nắm giữ  quyền  lực công cộng và thực hiện một  trong các chức năng của Nhà nước hoặc đảm nhận một vai trò trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Ðảng cộng sản, giữ vị trí trung tâm trong hệ thống chính trị, là một ví dụ về pháp nhân công pháp. Trong danh sách pháp nhân công pháp được ghi nhận trong luật viết hiện hành không có Nhà nước; song tư cách pháp nhân của Nhà nước được thừa  nhận trong nhiều chế định, đặc biệt     là trong pháp luật về tài sản và pháp luật thừa kế: Nhà nước là người thực hiện quyền sở hữu toàn dân về tài sản, là người tiếp nhận các  di sản không người hưởng.

Có hai quan niệm trái ngược trong luật phương Tây. Luật Việt Nam đang xây dựng  một quan niệm dung hoà.

Khái niệm. Cá nhân, trong xã hội có tổ chức, không thể sống và hoạt động một cách cô lập.  Có những lý do khác nhau để cá nhân luôn gắn bó với các cá nhân khác trong  quá trình tồn    tại của mình. Trên cơ sở quan hệ thân thuộc và quan hệ hôn nhân, các cá  nhân sống trong  cùng một gia đình. Các quan hệ chính trị liên kết các cá nhân, các gia đình và đặt cơ sở cho sự tạo thành quyền lực công cộng - Nhà nước và chính quyền địa phương. Nhắm đến cùng một mục đích hoặc quan tâm đến cùng một quyền lợi, các cá nhân liên kết với nhau và tạo thành một nhóm người có tổ chức đồng thời tập họp các nỗ lực cá nhân để thực hiện các hoạt động trong khuôn khổ tổ chức đó, nhằm đạt đến  mục đích chung hoặc bảo vệ quyền lợi chung.

Quyền nhân thân trong luật dân sự. Theo BLDS năm 2005 Điều 34, quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Bảo vệ người không có năng lực hành vi trong đời sống dân sự. Người không có  năng lực hành vi vẫn có khả năng hưởng các quyền và nghĩa vụ dân sự; tuy nhiên, trên nguyên tắc, luật không cho phép người này tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ  đó, bởi  trong hầu hết các trường hợp, người này không đủ khả năng nhận định, đánh giá ý nghĩa,  tầm quan  trọng của các quyền và nghĩa vụ mà mình là chủ thể. Luật  nói  rằng người  không có  khả  năng tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự nhất thiết phải được đại diện trong quá trình xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó.  Chế  độ  đại  diện  cho  người  không có năng lực hành vi mang ý nghĩa bảo  vệ  người  được đại diện trong đời sống dân sự, nhằm  ngăn ngừa và chống các hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người này.

Tình trạng không có năng lực hành vi.  Gọi là không có năng lực hành vi người ở  trong   tình trạng không thể tự mình thực hiện các quyền  và nghĩa  vụ  mà mình  là chủ  thể. Tình  trạng không có năng lực hành vị, trong luật thực định Việt Nam, có hai cấp    độ:

Luật dân sự Việt Nam hiện hành thừa nhận sự tồn tại của bốn loại chủ thể của quan hệ pháp  luật: cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình và tổ hợp tác.

Quá trình phát triển của pháp luật dân sự Việt Nam có thể được chia thành ba giai đoạn.

Luật và tục lệ - Nguồn của luật là nơi mà các quy phạm pháp luật được tìm thấy. Ta phân biệt hai loại nguồn.

Bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự
Nhìn chung,  các quy tắc của luật được các chủ thể của quan hệ pháp luật  chấp  hành một   cách tự giác.

Xác lập  quyền và nghĩa vụ dân sự

Pháp luật dân sự Việt Nam thừa nhận  cho  các  chủ  thể  hai  loại  quyền  dân  sự:  quyền có tính chất tài sản và quyền không có tính chất tài sản (còn gọi là quyền nhân thân).

Các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự trong luật thực định bao gồm: cá nhân,  pháp nhân,  hộ gia đình và tổ hợp tác.

  Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp không thể tự mình bảo vệ quyền sỏ hữu nếu có sự xâm hại thì họ “có quyền yêu cầu Toà án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại” ( Điều 255 Bộ luật dân sự 2005 ). Bộ luật dân sự ghi nhận và phân biệt nhiều phương thức kiện dân sự khác nhau để bảo vệ quyền sở hữu. Sự đa dạng của cuộc sống cho chúng ta thấy rằng, sự xâm phạm đên quyền sở hữu khác nhau cũng với những tình tiết khác nhau. Vì vậy vấn đề là phải chọn phương thức nào cho phù hợp với mức độ và những tình tiết cụ thể của vụ việc.

   Với cách tiếp cận quyền sở hữu là một quyền tuyệt đối, bảo vệ quyền sở hữu trở thành nhiệm vụ quan trọng của mỗi nhà nước. Khoản 2 điều 32 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định: “Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”. Pháp luật được coi là công cụ sắc bén và hữu hiệu nhất trong việc bảo vệ quyền sở hữu, bằng các quy phạm pháp luật, Nhà nước quy định phạm vi những quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản, đảm bảo cơ sở pháp lý vững chắc cho chủ sở hữu thực hiện quyền sở hữu của mình một cách an toàn nhất, đầy đủ nhất.

 Phân chia di sản thừa kế là công việc quan trọng nhằm xác định chính xác người thừa kế, xác định chủ sở hữu mới của di sản thừa kế cũng như nghĩa vụ của người thừa kế khi nhận di sản thừa kế. Pháp luật quy định về phân chia di sản thừa kế như sau: 

Pages