So sánh giữa phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại

0
492

Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại là hai chế tài thường xuyên được áp dụng khi một trong các bên của quan hệ hợp đồng vi phạm các nghĩa vụ đã thỏa thuận.  Tuy nhiên, căn cứ áp dụng, nội dung và phương thức xử lý của hai hình thức này lại hoàn toàn khác nhau. Tư vấn Việt Luật xin có bài phân biệt chi tiết như sau

Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại là hai chế tài thường xuyên được áp dụng khi một trong các bên của quan hệ hợp đồng vi phạm các nghĩa vụ đã thỏa thuận.  Tuy nhiên, căn cứ áp dụng, nội dung và phương thức xử lý của hai hình thức này lại hoàn toàn khác nhau. Tư vấn Việt Luật xin có bài phân biệt chi tiết như sau: 

so-sanh-giua-boi-thuong-thiet-hai-va-vi-pham-hop-dong

1. Giống nhau:

* Phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại đều được coi là biện pháp chế tài mà luật dân sự quy định để áp dụng cho các trường hợp vi phạm hợp đồng.

* Cơ sở để áp dụng 2 biện pháp này là phải có hành vi vi phạm hợp đồng trên thực tế và phải có lỗi của bên vi phạm.

* Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm: Điều 294 Luật thương mại 2005 quy định như sau: 

1. Bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong các trường hợp sau đây:
a) Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận;
b) Xảy ra sự kiện bất khả kháng;
c) Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia;
d) Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.
2. Bên vi phạm hợp đồng có nghĩa vụ chứng minh các trường hợp miễn trách nhiệm
.” 

2. Khác nhau:

Tiêu chí phân biệtPhạt vi phạm hợp đồng Bồi thường thiệt hại

Khái niệm:

 

Điều 300 Luật thương mại 2005:

Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này.

Khoản 1 Điều 302 Luật thương mại 2005:

 Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm

Mục đích Chế tài phạt hợp đồng có mục đích chủ yếu là trừng phạt, tác động trực tiếp vào ý thức của các chủ thể hợp đồng nhắm giáo dục ý thức tôn trọng hợp đồng, phòng ngừa vi phạm hợp đồng.Bồi thường thiệt hai là hình thức chế tài được áp dụng nhằm khôi phục, bù đắp những lợi ích vật chất bị mất của bên bị vi phạm hợp đồng mua bán. 
Căn cứ áp dụng:

+ Có thỏa thuận trong hợp đồng;

+ Có hành vi vi phạm hợp đồng;

+ Có lỗi của bên vi phạm

Điều 303 Luật thương mại 2005:

+ Có hành vi vi phạm hợp đồng;

+ Có thiệt hại thực tế;

+ Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.
 

Mức vật chất mà bên vi phạm phải thực hiện để bồi thường/ bù đắp

Theo Điều 301 Luật thương mại 2005:

 + Mức phạt được thỏa thuận trong hợp đồng và không được quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm;

+ Trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cấp chứng thư giám định có kết quả sai do lỗi vô ý của mình thì phải trả tiền phạt cho khách hàng với mức phạt do các bên thỏa thuận, nhưng không vượt quá mười lần thù lao dịch vụ giám định.

Khoản 2 Điều 302; Điều 305:

+ Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.

+  Nếu bên yêu cầu bồi thường thiệt hại không áp dụng các biện pháp hạn chế tổn thất, bên vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được.

Nghĩa vụ các bên: Chỉ cần thoản thuận trong hợp đồng thì khi có hành vi vi phạm có thể áp dụng

+ Nghĩa vụ chứng minh tổn thất;

+ Nghĩa vụ hạn chế tổn thất.

Ví dụ: 

Doanh nghiệp A và B ký kết hợp đồng mua bán màn khung có giá trị là 5 tỷ đồng. A là bên vi phạm.

+ Trường hợp 1: Hợp đồng quy định nếu bên nào vi phạm sẽ bị phạt 20% giá trị hợp đồng, tương đương 1 tỷ đồng. Khi tranh chấp xảy ra, bên B chỉ được nhận khoản tiền phạt vi phạm tối đa là 8% giá trị của phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm tương đương với 400 triệu đồng.

+ Trường hợp 2: Hợp đồng chỉ quy định nếu bên nào vi phạm sẽ bị phạt theo mức phạt vi phạm mà pháp luật quy định, không quy định mức phạt vi phạm cụ thể. Khi tranh chấp xảy ra, bên B chỉ được nhận khoản tiền phạt theo mức phạt vi phạm mà pháp luật quy định là  8% giá trị của phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm tương đương với 400 triệu đồng.

+ Trường hợp 3: Hợp đồng quy định nếu bên nào vi phạm sẽ phạt 1% giá trị của phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm. Khi tranh chấp xảy ra, bên B chỉ được nhận khoản tiền phạt vi phạm là 1% giá trị của phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm tương đương với 50 triệu đồng.
 

Doanh nghiệp A và B ký kết hợp đồng có giá trị là 5 ty. A là bên vi phạm.

B muốn A bồi thường thiệt hại thì phải có nghĩa vụ: 

+ Chứng minh tổn thất;

+ Chứng minh đã thực hiện các biện pháp hạn chế tổn thât;

 

Bên cạnh đó, Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm, tức là mức độ tổn thất thực tế, trực tiếp mà B phải chịu. 

 

3. Quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại: 

Khi áp dụng trách nhiệm bồi thường, cần lưu ý mối quan hệ giữa phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại. Với bản chất của hợp đồng, các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về các hình thức chế tài phù hợp với quy định của pháp luật. Các bên có quyền thỏa thuận về việc bên vi phạm chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm hợp đồng mà không phải bồi thường thiệt hại, hoặc có thể thỏa thuận áp dụng cả hai hình thức chế tài là phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại. 

Điều 307 Luật thương mại 2005 quy định:

”  Quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm và chế tài bồi thường thiệt hại
1. Trường hợp các bên không có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.
2. Trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác
.” 

4. Văn bản pháp luật áp dụng:

Luật thương mại 2005.