Vai trò của người quản lý di sản trong quan hệ thừa kế

0
129

   Như chúng ta đã biết, di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Khi cá nhân mất đi, trước khi mở thừa kế ( thừa kế theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật ) thì di sản sẽ do một cá nhân đứng ra quản lý, cá nhân này được gọi là người quản lý di sản. Nội dung liên quan đến người quản lý được pháp luật quy định tại Bộ luật dân sự 2015

  Như chúng ta đã biết, di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Khi cá nhân mất đi, trước khi mở thừa kế ( thừa kế theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật ) thì di sản sẽ do một cá nhân đứng ra quản lý, cá nhân này được gọi là người quản lý di sản. Nội dung liên quan đến người quản lý được pháp luật quy định tại Bộ luật dân sự 2015.

1. Người quản lý di sản:

– Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thoả thuận cử ra.

– Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản.

– Trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 616 BLDS 2015 thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý.

 

 

2. Quyền của người quản lý di sản:

– Người quản lý di sản quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 616 của Bộ luật này có quyền sau đây:

+ Đại diện cho những người thừa kế trong quan hệ với người thứ ba liên quan đến di sản thừa kế;

+ Được hưởng thù lao theo thoả thuận với những người thừa kế;

+ Được thanh toán chi phí bảo quản di sản.

– Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tại khoản 2 Điều 616 của Bộ luật này có quyền sau đây:

+ Được tiếp tục sử dụng di sản theo thoả thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc được sự đồng ý của những người thừa kế;

+ Được hưởng thù lao theo thoả thuận với những người thừa kế;

+ Được thanh toán chi phí bảo quản di sản.

– Trường hợp không đạt được thỏa thuận với những người thừa kế về mức thù lao thì người quản lý di sản được hưởng một khoản thù lao hợp lý.

3. Nghĩa vụ của người quản lý di sản:

– Người quản lý di sản quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 616 của Bộ luật này có nghĩa vụ sau đây:

+ Lập danh mục di sản; thu hồi tài sản thuộc di sản của người chết mà người khác đang chiếm hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

+ Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác, nếu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản;

+ Thông báo về tình trạng di sản cho những người thừa kế;

+ Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;

+ Giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế.

– Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tại khoản 2 Điều 616 của Bộ luật này có nghĩa vụ sau đây:

+ Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác;

+ Thông báo về di sản cho những người thừa kế;

+ Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;

+ Giao lại di sản theo thoả thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc theo yêu cầu của người thừa kế.

 

* Văn bản pháp luật áp dụng:

Bộ luật dân sự 2015.