Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics

Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics được quy định tại Điều 234 Luật Thương mại năm 2005 và được chi tiết hoá tại Nghị định số 140/2007/NĐ-CP ngày 05/09/2007 quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics được quy định tại Điều 234 Luật Thương mại năm 2005 và được chi tiết hoá tại Nghị định số 140/2007/NĐ-CP ngày 05/09/2007 quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics.

1. Điều kiện chung:

Thương nhân đăng kí kinh doanh dịch vụ logistics cũng giống như những thương nhân đăng ký kinh doanh các dịch vụ khác đều phải tuân theo những quy định chung tại Chương II Luật doanh nghiệp 2014 về thành lập doanh nghiệp

2. Những quy định đặc thù:

Điều 234 Luật thương mại 2005 quy định: ”  Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics

1. Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh nghiệp có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật.

2. Chính phủ quy định chi tiết điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics.” 

Từ những quy định chung đó, Nghị định 140/2007/NĐ-CP đã hướng dẫn cụ thể:

Đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics trong nước:

Điều 5, Điều 6 và Điều 7 Nghị định 140/2007/NĐ-CP quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics trong nước bao gồm:

+ Là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt Nam.

+ Có đủ phương tiện, thiết bị, công cụ đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, kỹ thuật và có đội ngũ nhân viên đáp ứng yêu cầu.

+ Tuân thủ các điều kiện về kinh doanh vận tải theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Các dịch vụ logistics chủ yếu và các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải yêu cầu thương nhân phải đáp ứng những điều kiện mang tính đặc trưng của nó. Những dịch vụ logistics chủ yếu như: dịch vụ bốc xếp hàng hóa, dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, dịch vụ đại lý vận tải, dịch vụ bổ trợ khác đóng vai trò quan trọng và đặc trưng công việc có liên quan đến kho bãi, bốc dỡ đòi hỏi thương nhân kinh doanh phải có đủ phương tiện, thiết bị chuyên môn để đảm bảo an toàn lao động, và bảo đảm cho công việc được thực hiện.

Đối với những thương nhân nước ngoài:

Thương nhân nước ngoài muốn kinh doanh dịch vụ logistics phải đáp ứng được các điều kiện quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 5 và Điều 6 Nghị định số 140/2007/NĐ-CP:

Điều kiện thương nhân kinh doanh các dịch vụ lô-gi-stíc chủ yếu: 

+ Có đủ phương tiện, thiết bị, công cụ đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, kỹ thuật và có đội ngũ nhân viên đáp ứng yêu cầu

+ Trường hợp kinh doanh dịch vụ bốc dỡ hàng hoá thì chỉ được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%;

+ Trường hợp kinh doanh dịch vụ kho bãi thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%; hạn chế này chấm dứt vào năm 2014;

+ Trường hợp kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%, được thành lập công ty liên doanh không hạn chế tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài kể từ năm 2014;

+ Trường hợp kinh doanh dịch vụ bổ trợ khác thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%; hạn chế này là 51% kể từ năm 2010 và chấm dứt hạn chế vào năm 2014.

Điều kiện thương nhân kinh doanh các dịch vụ lô-gi-stíc liên quan đến vận tải:

+ Là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt Nam.

+ Tuân thủ các điều kiện về kinh doanh vận tải theo quy định của pháp luật Việt Nam.

+ Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hải thì chỉ được thành lập công ty liên doanh vận hành đội tàu từ năm 2009, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%; được thành lập liên doanh cung cấp dịch vụ vận tải biển quốc tế trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%, hạn chế này chấm dứt vào năm 2012;

+ Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải thủy nội địa thì chỉ được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%;

+ Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không thì thực hiện theo quy định của Luật hàng không dân đụng Việt Nam;

+ Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải đường sắt thì chỉ được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%;

+ Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải đường bộ thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%; hạn chế này là 51% kể từ năm 2010;

+ Không được thực hiện dịch vụ vận tải đường ống, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

Nguyên nhân của các điều kiện:

Từ những quy định dành riêng cho các nhà cung cấp dịch vụ logistics nước ngoài nêu trên có thể thấy rằng: trong quá trình hội nhập, Việt Nam đang mở của cho thương nhân nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ vẫn còn khá mới mẻ này song còn dè dặt và thận trọng, tỷ lệ phần trăm vốn góp còn hạn chế, có những lĩnh vực không được phép đầu tư, mô hình công ty được phép thành lập không toàn diện.   Nguyên nhân điều này là do:

+ Do đây là lĩnh vực còn khá mới mẻ ở nước ta, do đó nếu mở của hoàn toàn thì thương nhân nước ta chưa đủ hiểu biết vá tự tin để thực hiện công việc kinh doanh này nên sẽ bị doanh nghiệp nước ngoài lấn át và chiếm lĩnh thì trường.

+ Sự hạn chế trong hình thức doanh nghiệp. Có nhiều trường hợp luật chỉ cho phép nhà đầu tư nước ngoài thành lập dưới mô hình liên doanh như trường hợp kinh doanh dịch vụ bốc dỡ hàng hóa trong dịch vụ logistics hủ yếu mà không cho các thương nhân nước ngoài lập nên những doanh nghiệp 100% vốn. Bởi để đảm bảo và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trowng nước được tham gia vào dịch vụ logistics.

+ Sự hạn chế trong tỷ lệ vốn góp của doanh nghiệp nước ngoài đối với việc thành lập công ty liên doanh là từ 49% đến không quá 51% là giúp cho doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hợp tác không bị lép vế trước doanh nghiệp nước ngoài nhiều vốn và kinh nghiệm.

+ Cũng có những lĩnh vực kinh doanh luật không cho phép đầu tư như: không được kinh doanh dịch vụ kiểm định và giấy chứng nhận cho phương tiện vận tải ( Điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị Định 140/2007/NĐ-CP). Bởi đây là những dịch vụ rất quan trọng. Sự chính xác của nó ảnh hưởng đến sự quy định của pháp luật. Vấn đề này có liên quan đến yếu tố chính trị, sự độc lập của quốc gia va sự diều hành của Nhà nước.

+ Do đây là vấn đề mới mẻ, nên các doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ logistics cần phải có sự bảo trợ của Nhà nước. Nhưng sự bảo trợ của Nhà nước Việt Nam ở đây không hề có tính chất chỉ bảo hộ nền sản xuất trong nước hay các doanh nghiệp trong nước. Việt Nam đã gia nhập WTO do đó việc mở cửa từng bước của Việt Nam về vấn đề hạn chế trong vốn góp khi thành lập các doanh nghiệp liên doanh phần lớn sẽ bị dỡ bỏ kể từ năm 2014. Đấy chính là định hướng của các nhà làm luật cho sự phát triển của logistics Việt Nam.

3. Văn bản pháp luật áp dụng:

Luật thương mại 2005

Nghị định 140/2007/NĐ-CP